Cách sơ cứu người bệnh khi tim ngừng đập, ngưng thở

Kĩ thuật hô hấp nhân tạo
Kĩ thuật hô hấp nhân tạo

Khi một ai đó có dấu hiệu tim ngừng đập, ngừng thở thì phải lập tức sơ cứu bệnh nhân. Đây là cách để sơ cứu để giữ gìn tính mạng cho người bệnh.

Hồi sức tim ngừng đập là làm tim đập lại để phục hồi tuần hoàn bằng tay, máy móc và thuốc, rồi tiếp sau đó tìm hiểu nguyên nhân ngừng tim để áp dụng một phương pháp điều trị hợp lý.

Ép tim ngoài lồng ngực: Phương pháp Rowenhovenep

Nguyên tắc

Ép tim ngoài lồng ngực là dùng 2 bàn tay nhịp nhàng đè ép tim giữa xương ức và cột sống

Khi ép, tâm thất đẩy máu vào động mạch chủ, sau đó khi tâm trương thì máu tràn vào đầy tâm thất.

Ép tim ngoài lồng ngực là tạm thời duy trì tuần hoàn tối thiểu ở não và động mạch vành, sau đó phải điều trị ngừng tim-tuần hoàn triệt để hơn.

Khi không sờ thấy mạch ở cổ và bên phải coi là ngừng tim, phải tiến hành ép tim ngay, vì để quá 3 phút tế bào não không phục hồi lại được.

Cơn đau tim gây nguy hiểm đến tính mạng
Cơn đau tim gây nguy hiểm đến tính mạng

Đối với người lớn:

Đặt bệnh nhân nằm ngửa trên bàn hay ván cứng

– Người ép tim đặt lòng bàn tay phải lên phần nửa dưới xương ức, bàn tay trái đè chéo góc lên bàn tay phải.Đề mạnh lên ngực bệnh nhân cho xương ức xẹp xuống độ 3-4cm, đè nhịp nhàng 60 lần/phút, cho đến khi nào tim đập lại mới thôi.

Ở trẻ nhỏ, trẻ sơ sinh:

    • Lòng bàn tay ôm lấy ngực đứa bé, hai ngón tay cái chạm nhau trên xương ức.

Ấn mạnh hai ngón tay cái làm ép xương ức xương độ 15- 25mm, ép nhịp nhàng 100 lần/phút cho đến khi tim đập lại mới thôi.Đồng thời phải làm hô hấp nhân tạo: hà hơi thổi ngạt qua mồm hoặc mũi

Ép tim ngoài lồng ngực có tác dụng nếu thấy:

    • Mỗi lần đè ngực thấy mạch ở cổ hay ở bên đập
    • Da hồng trở lại
    • Đồng tử đang giãn co hẹp dần lại
    • Tri giác trở lại

Phục hồi hô hấp

  1.  

    а.   Đặt ngay ống nội khí quản: không cần cho thuốc mê, thuốc giãn cơ

    Làm hô hấp nhân tạo, hoặc bóp bóng cho thở oxy 100%, mỗi phút 16 lần.

Hồi sức hô hấp có mục đích mang lại oxy cho bệnh nhân đang bị ngừng thở hay suy thở nặng, để chống tình trạng thiếu oxy của các tế bào (làm não bị huỷ hoại sau 3 phút), và thải CO2 để chống tình trạng ưu thân (gây tình trạng toan hô hấp).

Đặt bệnh nhân nằm nghiêng, lau sạch đờm dãi trong miệng và họng bằng một miếng gạc, hoặc cho một ống thông cao su vào mồm hoặc mũi để hút đờm dãi.

Lấy dị vật trong họng (nếu có)

    • Với trẻ sơ sinh: nắm hai chân dốc ngược, vỗ mạnh vào lưng
    • Với trẻ nhỏ hoặc người lớn: đặt nằm sấp, đầu thấp, vỗ mạnh vào lưng.

Tránh không để lưỡi tụt vào họng: tìm nguyên nhân gây cản trở đường hô hấp trên khi bệnh nhân nằm ngửa.

    • Đặt đầu ưỡn ngửa
    • Đẩy hàm dưới ra trước và lên cao bằng cách:
    • Đối trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ
    • Hà hơi qua mồm và qua mũi
    • Nhịp 20 lần/phút nhưng hà ít hơi hơn người lớn+ Ấn vào ngành lên của xương hàm dưới để đẩy xương hàm dưới ra trước.

      + Cho ngón tay cái vào trong mồm rồi kéo mạnh hàm dưới ra phía trước.

      • Nếu có canuyn Mayo thì đặt vào miệng bệnh nhân sẽ làm đường hô hấp trên được lưu thông.
    • Kĩ thuật hô hấp nhân tạo
      Kĩ thuật hô hấp nhân tạo

Cho thở oxy: tốt nhất là bằng ống thông dặt qua mũi.

      • Nếu bệnh nhân bị suy tim: cho thở oxy tôi đa là 10-12 lít/phút.
      • Nếu bệnh nhân bị suy hô hấp mạn tính đang ở trong tình trạng ưu thán: cho thở oxy tối đa là 2 phút.
      • Nếu bệnh nhân tỉnh, hướng dẫn cho bệnh nhân ho và khạc đờm. Nếu mê man thì vỗ và đấm nhẹ vào lồng ngực.
      • Nếu ngừng thở và tím tái hoặc thở khó, phải làm hô hấp nhân tạo ngay.
      • Đơn giản nhất ỉà hà hơi thổi ngạt qua mồm hoặc qua mũi
      • Đối với người lớn
      • Đặt bệnh nhân nằm ngửa, đầu thấp, vai có độn, giữ cho lưỡi khỏi tụt vào (đầu ưỡn ngửa, hàm dưới đẩy trồi ra phía trước).
      • Người làm hô hấp quỳ ở cạnh đầu bệnh nhân.
      • Hít một hơi dài rồi úp miệng vào miệng bệnh nhân và hà hơi thổi mạnh, trong khi má để vào mũi bệnh nhấn để hơi khỏi thoát ra đằng mũi.
      • Ngửng lên để cho bệnh nhân tự thở ra.
      • Hà hơi theo nhịp 12-15 lần/phút cho đến khi bệnh nhân tự thở.
      • Có thể vừa hà hơi thổi ngạt vừa bóp tim ngoài lồng ngực nếu đồng thời bị ngừng tím.
      • Hà hơi thổi ngạt qua mũí áp dụng khi bệnh nhân bị cứng hàm, co giật hoặc nôn.

      + Đặt bệnh nhân nằm ngửa hay nằm nghiêng, người thổi ngạt một tay tì vào đỉnh đầu, một tay nâng cằm lên để khép miệng.

      + Hít một hơi dài rồi thở vào mũi bệnh nhân, sau đó hé mồm bệnh nhân để hơi thở thoát ra dễ dàng qua mũi và mồm.

    • Hà hơi không kết quả nếu bị tắc đờm dãi, lưỡi tụt, hà ít hơi quá.
    • Nếu người bệnh nôn hay nước dịch dạ dày trào lên mồm, phải đặt đầu nghiêng sang bên để khỏi trào vào khí quản.

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.


*