Rối loạn vận động và rối loạn phản xạ của thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng

Hội chứng đuôi ngựa
  • Rối loạn vận động (motor disturbances)

Mức độ nhẹ, rối loạn vận động (RLVĐ) biểu hiện trước hết là yếu sức cơ ngón chân cái về phía mu chân do rễ thần kinh thắt lưng L5 bị chèn ép.

Trường hợp bại yếu cơ duỗi bàn chân, người bệnh đi lại khó khăn do không gấp được bàn chân về phía mu, khi đi mũi bàn chân không nâng cao hay bị vấp mũi chân. Khi đi bộ hay bị tuột dép không có quai hậu. Theo một số tác giả thì yếu động tác gấp bàn chân về phía mu khoảng 9,7%. Chúng tôi gặp liệt và bại bàn chân là 4,2%, yếu sức cơ ngón chân cái là 20,8%.

Trong trường hợp thoát vị nặng, có thể chèn ép nhiều rễ thần kinh và mạch máu, gây nên hội chứng đuôi ngựa (cauda equina syndrome), biểu hiện bại yếu chân (nặng là bàn chân), rối loạn cảm giác tầng sinh môn, rối loạn tiểu tiện và sinh dục. Trong số 2359 trường hợp thoát vị đĩa đệm được mổ tại Bệnh viện 103 thì hội chứng đuôi ngựa gặp 40 trường hợp (chiếm 1,7%). Theo một số tác giả khác, hội chứng đuôi ngựa có thể gặp tới 3-4%.

Hội chứng đuôi ngựa
Hội chứng đuôi ngựa

Dưới đây là triệu chứng lâm sàng tổn thương các rễ thần kinh do thoát vị gây nên:

 

 

  • Thoát vị đĩa đệm L1-L2 (rễ Ll):

+ Đau mặt trước bẹn.

+ Động tác gấp đùi vào bụng yếu.

+ Đau và hạn chế khép khớp háng vào trong.

+ Dấu hiệu Wassermann (+).

+ Teo cơ đùi.

  • Thoát vị đĩa đệm L2-L3 (rễ L2):

+ Đau mặt trước đùi và đầu gối.

+ Yếu động tác khép khớp háng vào trong và xoay khớp háng ra ngoài.

+ Giảm cảm giác nông mặt trước đùi.

+ Teo cơ đùi.

+ Giảm phản xạ gối.

+ Dấu hiệu Wassermann (+).

Thoát vị đĩa đệm L3-L4 (rỗ L3):

+ Đau mặt trước đùi và đầu gối.

+ Duỗi cẳng chân yếu (rễ L3 chi phối vận động cơ tứ đầu đùi).

– Teo cơ tứ đầu đùi.

■Giảm cảm giác mặt trước đùi và giữa bắp chân.

+ Giảm phản xạ gối.

Thoát vị đĩa đệm L4-L5 (rễ L4):

+ Đau bắp chân là chủ yếu, đau lan xuống mu bàn chân và ngón chân cái.

+ Không gấp được bàn chân về phía mu (dorsiflexion), bàn chân rũ xuống (foot drop) (còn gọi là bàn chân thuổng), khi đi bệnh nhân phải nhấc chân lên cao để đầu các ngón chân không quệt trên mặt đất.

+ Dị càm (paraesthesia) và tè (numbness) mu bàn chân và ngón cái.

+ Teo cơ khu ngoài cẳng chân.

Thoát vị đĩa đệm L5-S1:

Chui ra lỗ ghép Lỗ-Sl là rễ L5. Nhưng thoát vị đĩa đệm Lố-Sl thì có thể chèn ép rễ L5 hoặc chèn ép rễ Sl và thậm chí có thể chèn ép cả hai rễ L5 và Sl. Lâm sàng chèn ép từng rễ như sau:

+ Chèn ép rễ L5:

. Đau mặt sau đùi, đau ở bắp chân và cổ chân.

. Giảm cảm giác nông mặt trước ngoài cẳng chân và mu chân.

. Dị cảm và tê bắp chân.

. Teo cơ mông và cơ khu trước cẳng chân.

. Không gấp được bàn chân về phía mu, bàn chân rũ (foot drop). Bệnh nhân đứng được bằng mũi bàn chân (kiễng được gót chân) nhưng không đứng được bằng gót chân. Khi đi, chân phải nhấc lên cao để mũi các ngón chân không quệt trên mặt đất.

. Không xoay được bàn chân vào trong.

. Dấu hiệu Lasègue (+).

+ Chèn ép rễ Sl:

. Đau bắp chân, đau cổ chân và gan bàn chân.

. Dị cảm và tê gan bàn chân.

. Không gấp được bàn chân về phía gan chân (plantar flexion). Người bệnh không thể đứng bằng mũi bàn chân (không kiễng được gót chân), khi đi đặt gót chân xuống trước, còn gọi là “bàn chân gót” (pes calcaneus).

. Không xoay được bàn chân ra ngoài.

. Giảm hoặc mất phản xạ gót.

Teo cơ mông, teo cơ cẳng chân.

. Dấu hiệu Lasègue (+).

Như ta đã biết, dây thần kinh hông to được tạo nên từ các rễ thần kinh L4, L5, Si, S2 và S3. Về chức năng dây thần kinh hông to chi phối toàn bộ động tác của bàn chân như gấp bàn chân về phía mu (do rễL4 và rễ L5 chi phối), gập bàn chân về phía gan (do rễ Sl và rễ S2), xoay bàn chân ra ngoài (do rễ L5, rễ Sl) và xoay vào trong (rễ L4, rễ L5), gấp cẳng chân vào đùi (rễ L5, rẻ Sl).

Rễ L5 chi phối cả động tác xoay bàn chân vào trong và xoay bàn chân ra ngoài.

Do vậy, có triệu chứng chung cho tổn thương một hoặc hai rễ, ví dụ, không gấp được bàn chân về phía mu là tổn thương rễ L4 hoặc rễ L5. Không xoay bàn chân ra ngoài là tổn thương rễ L5 hoặc tổn thương rể Sl.

  1. Rối loạn phản xạ

Trong TVĐĐ cột sống thắt lưng, biểu hiện chủ yếu là giảm phản xạ gối và phản xạ gân gót; nhưng thực tế chúng tôi gặp một số trường hợp TVĐĐ thắt lưng nhưng phản xạ gối hoặc gót tăng nhẹ, có thể do rễ thần kinh tăng nhạy cảm với kích thích bên ngoài.

Rễ thần kinh cùng Sl chi phối phản xạ gót. Theo Arseni (1965) thì giảm và mất phản xạ gót là 60%. Trong số nghiên cứu của chúng tôi thì giảm và mất phản xạ gối và gót là 47,64%. Theo Spurling (1958) thì giảm phản xạ gót điển hình gặp trong thoát vị L5-S1. Một số tác giả khác cho rằng giảm phản xạ gót cũng gặp trong TVĐĐ L4-L5.

  • Rễ thần kinh thắt lưng L3 chi phối phản xạ gối. Theo Yumashev (1973) thì giảm và mất phản xạ gối trong TVĐĐ L3- L4 gặp 38,3% và trong TVĐĐ L4-L5 là 25,53%.

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.


*